Theo ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, đề án sản xuất trồng trọt giảm phát thải không thể chỉ dừng ở xây dựng được quy trình kỹ thuật cụ thể cho từng cây trồng, mà còn phải đưa được tới tận nông dân.

Ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia. Ảnh: Bảo Thắng.
"Điều quan trọng là quy trình kỹ thuật phải đủ đơn giản để nông dân có thể áp dụng trong thực tế, đồng thời vẫn đáp ứng yêu cầu quốc tế về đo đếm và xác nhận giảm phát thải", ông nói và nhấn mạnh điều quan trọng nhất với nông dân, là quy trình phải giúp canh tác đạt hiệu quả cao nhất. Còn việc giảm phát thải bao nhiêu, đo đếm như thế nào là nhiệm vụ của hệ thống kỹ thuật và quản lý.
Ông cũng lưu ý, nếu quy trình MRV (đo đếm, báo cáo và thẩm định phát thải) quá phức tạp sẽ khó triển khai trên diện rộng, đặc biệt với các cây trồng ngoài lúa khi quốc tế chưa có nhiều mô hình chuẩn sẵn.
Trong nhiệm vụ đề án, hệ thống khuyến nông sẽ tổ chức đào tạo từ cán bộ tới cấp xã, sau đó tập huấn trực tiếp cho nông dân. Ông Hồng cam kết, phối hợp doanh nghiệp để phát triển các vật tư và công nghệ phù hợp với sản xuất phát thải thấp như giống ngắn ngày, phân bón chậm tan hay máy móc cơ giới hóa sử dụng điện.
Để quá trình chuyển đổi sang sản xuất giảm phát thải thành công, bền vững, Phó Giám đốc Hoàng Văn Hồng đề xuất doanh nghiệp, cán bộ kỹ thuật và nông dân cùng tham gia trong một hệ thống thống nhất, thay vì coi đây là nhiệm vụ riêng của từng địa phương hay từng dự án đơn lẻ.
Tháo gỡ khó khăn về vật tư, cơ giới hóa, chế biến
Ông Trần Thanh Hiệp, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang mong muốn, các kết quả từ đề án sản xuất trồng trọt giảm phát thải sớm có thể "thấy được", để nông dân nhìn rõ hiệu quả kinh tế và sẵn sàng đồng hành trong một chặng đường dài.
Hiện An Giang đăng ký hơn 350.000 ha trong Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp và xem đây là hướng đi bắt buộc để tái cấu trúc sản xuất lúa theo hướng bền vững. Tuy nhiên, theo ông Hiệp, “nút thắt” vẫn còn, đặc biệt là lúa giảm phát thải chưa tạo được khác biệt rõ ràng về giá trị so với lúa sản xuất thông thường. “Người dân chỉ đồng tình khi thấy hiệu quả thực tế. Nếu làm mà lợi ích chưa rõ thì rất khó để chương trình chạy dài hạn”, ông nói.
Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, việc xây dựng nhãn hiệu "nông sản giảm phát thải" và mã số vùng trồng cho gạo giảm phát thải cần được đẩy nhanh để tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm và tạo động lực cho người dân tham gia. Sản xuất giảm phát thải bên cạnh thay đổi quy trình canh tác của người dân, cần đồng thời tháo gỡ các vấn đề liên quan như vật tư nông nghiệp, hạ tầng kỹ thuật, cơ giới hóa, chế biến sâu và liên kết tiêu thụ.
Trên tinh thần ấy, An Giang đang định hướng phát triển theo mô hình kinh tế tập thể với cách làm “mua chung, bán chung”, thay vì sản xuất riêng lẻ như trước đây. Đây được xem là giải pháp để tổ chức lại sản xuất và hình thành chuỗi ngành hàng đủ lớn cho mục tiêu phát thải thấp.

Bà Đỗ Thị Hương, Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI). Ảnh: Bảo Thắng.
Nhiều mô hình tiềm năng nhưng chưa chứng minh được tính khả thi
Quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp phát thải thấp tại Việt Nam là một chặng đường dài và cần huy động từ nhiều nguồn lực khác ngoài nguồn ngân sách nhà nước, theo bà Đỗ Thị Hương, Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI). Nguồn vốn tư nhân, công nghệ khí hậu và các mô hình tài chính xanh, vì thế, là những giải pháp giúp đẩy nhanh hoạt động này.
"Nhiều mô hình giảm phát thải có tiềm năng nhưng nếu không chứng minh được tính khả thi về tài chính và thị trường thì cũng khó để triển khai và nhân rộng", bà Hương đánh giá và nói thêm, rằng ngoài mục tiêu giảm phát thải, các dự án được lựa chọn phải đáp ứng khả năng thương mại hóa và thu hút được nguồn vốn đầu tư.
GGGI đang hỗ trợ tính toán thí điểm mô hình canh tác lúa giảm phát thải với giải pháp tưới ngập khô xen kẽ (AWD) kết hợp sử dụng phân bón sản xuất từ than sinh học (biochar), áp dụng công nghệ Digital MRV để tính toán lượng phát thải giảm được cũng như tính toán các chi phí thực tế của mô hình.
Tổ chức này đã huy động hơn 400 triệu USD cho các dự án đầu tư xanh tại Việt Nam, trong đó riêng hỗ trợ huy động từ nguồn trái phiếu xanh là hơn 300 triệu USD. Ngoài ra, GGGI đang triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ khí hậu và startup trong lĩnh vực nông nghiệp tiếp cận nhà đầu tư, cố vấn kỹ thuật và kêu gọi vốn quốc tế.
5 lĩnh vực cần ưu tiên khi CP mở rộng đầu tư tại Việt Nam2026/07/10
Việt Nam giới thiệu sáng kiến đổi mới chuỗi giá trị nông-lâm sản trước thềm COP312026/06/26
Nguồn gốc gỗ thành lợi thế cạnh tranh trước làn sóng siết truy xuất2026/07/09
Rà soát toàn bộ quy trình liên quan về cấp mã số vùng trồng2026/07/08
Nông dân phải thành lực lượng trung tâm của chuyển đổi xanh2026/06/09
